Trong ba thế kỷ đầu công
nguyên, những người Kitô Giáo chưa có ư niệm ǵ về
Thiên Chúa Ba Ngôi. Bắt đầu
từ năm 320, một phong trào thần học bỗng
nhiên bùng nổ tại Ai
Giám mục Arius (A-ri-ơcáit) cai quản
địa phận
Phao Lô rao giảng giáo lư Kitô
đă nhấn mạnh đến bản tính con người,
chứ không phải bản tính Thiên Chúa của Jesus : "Nếu
Chúa Jesus không phải là con người th́ chúng ta không có hy vọng
ǵ hết, v́ nếu Chúa Jesus là Thiên Chúa theo bản chất
chúng ta làm sao có thể bắt chước Ngài được
?".
Trong suốt ba thế kỷ đầu
công nguyên, các cuộc tranh luận về bản tính Thiên Chúa
của Jesus và vấn đề cao thấp trong ngôi vị của
Chúa Cha và Chúa Con đă gây ra một cuộc khủng hoảng
giáo lư trong đạo Kitô*.
Để ngăn chặn nạn chia rẽ và phân hủy
đạo Kitô, ngày 20 tháng 5 năm 325, hoàng đế La Mă
Constantine đă triệu tập hội nghị các giám mục
(thời đó giáo hội Kitô chưa có các chức vụ hồng
y, giáo hoàng) tại Nicaea.
Do áp lực
của hoàng đế, hội nghị
Mọi giám mục tham dự hội nghị
đều kư tên chấp thuận bản Kinh Tin Kính, ngoại
trừ 3 giám mục Arius, Athanasius và Marcellus. Hoàng đế
Constantine lúc đó chưa theo đạo Kitô, cũng chẳng
biết ǵ về giáo lư, chỉ có một mục đích duy
nhất là thống nhất đạo Kitô và biến đạo
này thành một công cụ hữu hiệu để thực
hiện tham vọng xâm lược thế giới. V́ thấy 3 vị giám mục không
chịu kư tên vào bản Kinh Tin Kính của hội nghị
Nicaea theo ư ḿnh, Constantine trả thù bằng cách ra lệnh sát
hại giám mục Arius và các tín đồ của ông, đồng
thời ra lệnh bắt hai giám mục Athanasius và Marcellus
đem đi đày.
Sau mười bốn năm bị
đày ải, Marcellus được tha về. Marcellus dành thời giờ của
cuộc đời c̣n lại viết sách tố cáo hội
nghị Nicaea, ông gọi hội nghị này là cái ḷ đẻ
ra thuyết Thiên Chúa Ba Ngôi. Ông
dùng danh từ Tritheism (Thuyết ba thiên chúa) để ám chỉ
thuyết thiên chúa ba ngôi của hội nghị
Mặc dù giáo hội Kitô đă được
thống nhất về giáo lư do sự xuất hiện kinh
Tin Kính và nhất là do quyền
lực của hoàng đế Constantine, cuộc khủng hoảng
niềm tin vẫn tiếp tục lan rộng và kéo dài đến
thế kỷ 5.
Giữa thế kỷ 5, ba vị giám mục
ở vùng Cappadocia ở Thổ Nhĩ Kỳ, được
gọi chung là nhóm Cappadonicians, đưa ra lư thuyết phân
biệt hai loại giáo lư:
1. Giáo lư công truyền (exotoric). Đó là giáo lư của giáo hội dựa
trên văn bản Kinh Thánh nhằm mục đích dạy cho
công chúng tín đồ hiểu được các lẽ
đạo (the public teaching of the church based on the scriptures).
2. Giáo lư bí truyền (esotoric). Đây là thứ giáo lư cao siêu hàm chứa
sự thâm sâu của chân lư mà ư nghĩa của nó cần phải
được ẩn dấu.
Các vị không thể viết ra trên giấy trắng mực
đen (The deeper meaning of truth that the holy fathers preserved in a
silence. The meaning is not to be
devulged by writing it down - Basil, trong tác phẩm On the Holy Spirit.)
Sự phân biệt hai thứ giáo lư của
một chân lư nêu trên là căn bản cho học thuyết của
HỘI TAM ĐIỂM (Free Masonry).
Đă từ lâu, hội Tam Điểm là một hội
bí mật qui tụ nhiều bậc minh triết trên khắp
thế giới. Họ đă
và đang nắm vai tṛ siêu quyền lực quốc tế. Họ chủ trương: Không có
một tôn giáo nào cao hơn Sự Thật, không một chân
lư tôn giáo nào có thể được diễn tả và xác
định một cách rơ ràng và hợp lư nếu không có
"con mắt của tinh thần" để
"nh́n" chân lư, con người sẽ có những ư
tưởng hoàn toàn sai lạc (Not all religious truth was capable
of being expressed and defined clearly and logically. If they did not "see"
these truths with "the eye of the spirit", people could get quite the
wrong idea).
Đạo Phật cũng rất chú trọng
đến điều nói trên v́ đạo Phật luôn nhắc
nhở chúng ta rằng: Chân lư nằm ngoài sự diễn
đạt của các ngôn từ.
Đạo lư là một điều hết sức khó hiểu
đối với mọi người. Chỉ một số rất ít
người đạt tới tŕnh độ hiểu
được đạo lư. Sự hiểu biết
được truyền từ người này sang người
khác bằng ngôn từ, mà ngôn từ lại không có đủ
khả năng chuyển tải đầy đủ ư
tưởng, do đó những kinh sách thực sự chẳng
có ích lợi bao nhiêu. Muốn
hiểu cái ư cốt lơi của các tôn giáo, chúng ta cần phải
có "con mắt của tinh thần". Chúng ta sẽ trở lại vấn
đề này trong chương nói về "Con Mắt
Thượng Đế và Kim Tự Tháp Trật Tự Thế
Giới Mới".
Mặc dầu giáo hội Kitô có nhiều
nhà thần học tài giỏi đă ra sức giải thích
Ba Ngôi Thiên Chúa là một Đức Chúa Trời, nhưng
Thiên Chúa Ba Ngôi cho tới nay vẫn là một vấn đề
làm nhức đầu giáo dân và vẫn là một đề
tài làm rối trí mọi người muốn t́m hiểu giáo
lư Kitô. Cuối cùng, các nhà lănh đạo tôn giáo này phải
buông xuôi bằng cách dạy giáo dân rằng: Thiên Chúa Ba Ngôi là
một sự huyền nhiệm tuyệt đối (the
absolute mystery), mọi người chỉ có thể chấp
nhận bằng đức tin (đui mù) chứ không thể
công nhận bằng lư trí b́nh thường được!
Trong số các nhà thần học Kitô
Giáo, người sáng giá nhất là
Trong
tác phẩm "The Jesus Connection" ( The Crossroad Publishing Co.,
xuất bản năm 1985), học giả Do Thái Leonard Yassen
đă viết: "Jesus đă chết không phải với
tư cách là Chúa Kitô mà Ngài đă chết với tư cách là
một công dân Do Thái. Ngài không hề
biết danh từ Kitô Giáo là ǵ và Ngài cũng không hề nghĩ
rằng ḿnh là nhà sáng lập một đạo mới, tách
rời khỏi đạo Do Thái là đạo của
Ngài". (Jesus died not as a
Christian but as a Jew. He had never
heard the world Christianity and he had no idea he could be called the founder
of a separatist religion from his Judaism).
Theo ông, người sáng lập đạo Kitô chính là
Paul (thánh Phaolô) và
Augustine là người đă làm cho khoa thần
học của Phao Lô có thêm một tính cách mới, đó là
tính cách triết học.
Augustine thực chất là một triết gia. Ông chịu ảnh hưởng nặng
nề nền văn hóa Hy Lạp.
Ông nghiên cứu sâu sắc các triết thuyết của
các tôn giáo khác như Ấn Độ Giáo, Phật Giáo và
Sherman (Nhất Thần Giáo).
Ông xác tín vào một điều căn bản: Có một Thiên Chúa xuất phát từ
không (ex-nihilo). Ông đưa ra
một định nghĩa như sau về Thiên Chúa: Thiên Chúa không phải là một thực
tế khách quan mà là sự hiện hữu thuộc tinh thần
trong chiều sâu phức tạp của bản thân Ngài (God
was not an objective reality but a Spititual Presence in the complex depth of
the self) .
Từ thế
kỷ thứ 5 đến nay, cuốn luận đề De
Trinitate của Augustine là cuốn sách gối đầu
giường của các tu sĩ và giới trí thức Kitô
Giáo, v́ đó chính là cái ḷ đẻ ra Thiên Chúa Ba Ngôi "hoàn
hảo" như ta thấy ngày nay. Căn bản giáo lư đạo
Kitô là ư niệm về Thiên Chúa Ba Ngôi hoàn toàn dựa trên luận
đề độc nhất vô nhị này. Augustine
đưa ra nhiều thí dụ để mọi người
có thể h́nh dung ba ngôi là Một Thiên Chúa. Chẳng hạn chúng ta chỉ có một
đời sống tinh thần.
Đời sống tinh thần đó có 3 đặc
tính ( three properties) là sự hiểu biết, kư ức và ư
chí (understanding, memory and will).
Augustine tin có quỉ và gọi quỉ là "các thiên thần
nổi loạn" (rebel angels) chống lại Thiên
Chúa. Loài người phải
chịu khổ đau, một phần do Thiên Chúa trừng
phạt v́ tội tổ tông, phần khác do sự cám dỗ
của quỉ nên phạm thêm những tội khác chống
lại Thiên chúa nên bị Chúa phạt thêm nữa. Triết thuyết của Augustine
hoàn toàn dựa trên thần thoại Vườn Địa
Đàng (Garden of Eden) là sản phẩm tưởng tượng
của người Sumeritans ở Lưỡng Hà Châu
(Mesopotamia/Babylon) . Những chuyện thần thoại bịa
đặt đó chẳng khác ǵ những chuyện kể
trong Ngàn Lẻ Một Đêm của xứ
Augustine đă để lại cho Công
Giáo La Mă cả một gia tài gai góc v́ đă biến tôn giáo
này thành tôn giáo duy nhất dạy đàn ông và đàn bà coi
nhân tính của họ như một cái hố ngăn cách
kinh niên. Cuối cùng Công Giáo trở
thành một tôn giáo nổi tiếng về óc kỳ thị
phụ nữ trong thế giới Tây Phương chỉ v́
Công Giáo đă lún quá sâu vào triết
thuyết của nhà thần học
Ả Rập chạm điện cao thế này.
Trong tác phẩm One Female Dress, Augustine viết
về đàn bà như sau:
"Các người có biết rằng mỗi đàn
bà là một Eva không? Sự kết
án của Thiên Chúa trên phái tính của các người vẫn
tồn tại trong thời đại này. Các người (đàn bà) là ảnh
của quỉ dữ, các người là kẻ đầu tiên
phạm tội ăn trái cấm và là kẻ đầu tiên
vi phạm luật của Chúa.
Các người là kẻ thuyết phục chồng
ḿnh, người mà quỉ dữ không đủ sức tấn
công, phạm tội chống lại Chúa. Đàn bà các người là kẻ
đă phá hoại đàn ông, h́nh ảnh của Thiên Chúa. (Augustine tin rằng Thiên Chúa là
Đàn Ông). Chỉ v́ tội lỗi
của bọn đàn bà các ngươi mà Con của Thiên chúa
phải chết. (Do you know that
you are each an Eve? The sentence of God
on this sex of yours lives in this age.
The guilt must of necessity live too.
You are the devils gateway, you are the unsealer of that forbidden
tree. You are the first deserter of the
divine law. You are she who persuaded
him whom the devil was not valiant enough to attack. You so carelessly destroyed man, God's
image. On account of your desert, even
the Son of God had to die).
Augustine
thù ghét đàn bà và nguyền rủa toàn thể nữ giới
với những lời văn cực kỳ cay độc. Chỉ có một phụ nữ duy
nhất được Augustine tôn trọng là đức mẹ
Maria. Augustine lư luận: Đức mẹ Maria không giao cấu
với đàn ông để sinh ra Chúa Jesus nên Chúa Jesus là
người duy nhất không bị nhiễm tội tổ
tông. Chúa Jesus là Ngôi Lời
(Logos,Word) nhập thể, biến thành xương thịt
loài người để toàn thể loài người
được thánh hóa do ân sủng của Thiên Chúa, và cuối
cùng loài người sẽ trở nên Một cùng với
Thiên Chúa. (The Word was made flesh in
order that the whole human being deified by the grace of God and become by
nature the sole God). Như thế
Augustine là người khai triển tư tưởng Hy Lạp
về Ngôi Lời, nói đúng hơn là tư tưởng của
triết gia Hy Lạp gốc Do Thái tên Philo Judaeus thế kỷ I sau Công Nguyên,
để gán ghép cho Jesus mang bản chất Thiên Chúa v́ Jesus
là Ngôi Lời của Thiên Chúa nhập thể.
Qua
các tác phẩm đồ sộ của Augustine, h́nh ảnh về
Thiên Chúa Ba Ngôi đă được xác định: Chúa Cha là một Thiên Chúa cay nghiệt
(a harsh God), Chúa Con là một nhân vật duy nhất nửa
người nửa Thiên Chúa (half man, half God). Chúa Thánh Thần như một bóng
mờ phụ thuộc vào hai ngôi trên. Cái tội lỗi ghê gớm kinh khủng nhất trong vũ trụ là tội
của bà Eve ăn trái cấm tức là trái của cây Hiểu
Biết (the tree of knowledge) đến nỗi chỉ có ngôi Lời
Thiên Chúa mới đủ tư cách dùng cái chết của
ḿnh để xin Chúa Cha tha tội.
Nhưng dù Chúa Con đă phải chịu cực h́nh và
chịu chết, Chúa Cha chỉ tha tội cho loài người
trên nguyên tắc mà thôi.
Dựa vào thực tế, chúng ta có thể
tóm lược như sau: Chúa Cha vẫn bắt loài người
phải hoàn toàn gánh chịu mọi hậu quả của tội
tổ tông, đó là sự cơ cực về thể xác và
đau khổ về tinh thần.
Trước khi Chúa Con chịu chết chuộc tội,
loài người phải cơ cực đau khổ ra sao
th́ sau khi được Chúa Con cứu chuộc, loài người
vẫn phải cơ cực và đau khổ như vậy! T́nh trạng không hề thay đổi
v́ thực tế Chúa Con chẳng cứu ai và Chúa Cha cũng
chẳng giảm sự thù hận loài người chút nào. Chúa Cha xuất thân từ con ḅ
đực điên khùng của Abraham. Chúa Con là một gă thợ
mộc thất học. Chúa
Thánh Thần là một con chim bồ câu đực. Thờ Thiên Chúa ba ngôi thực chất
là thờ người và cầm thú!
Những người Do Thái và thế giới Hồi
Giáo cực kỳ khinh bỉ thuyết Thiên Chúa Ba Ngôi của
Kitô Giáo. Họ gọi thuyết
này là giáo lư rắc rối và phỉ báng Thiên Chúa (puzzling and
blasphemous). Kitô Giáo là "ngụy
Thiên Chúa Giáo" v́ về thực chất nó là Đa Thần
Giáo chứ không phải là Độc Thần Giáo theo
đúng ư nghĩa chỉ tôn thờ một Thiên Chúa duy nhất.