Lời
Giới Thiệu :
Bài
viết này có thể coi là bài viết đầu tiên trong
loạt bài tôi viết về đề tài “Tôn Giáo và Dân
Tộc”. Viết xong từ cuối năm 1999 khi sống
lang thang ở
- Địa chỉ 1:
http://charlienguyen.com/
- Địa chỉ 2:
http://home.comcast.net/~charlieng/
- Địa chỉ 3 :
http://home.earthlink.net/~charlienguyen/
tôi
muốn đưa bài này lên để chia xẻ với các
bạn .
Trước
khi vào đọc “Củ Khoai Lùi Bếp Tro”, xin mời các
bạn đọc bức thư của tôi gửi hai
người bạn thân để giới thiệu bài
viết này:
-
Trước hết là bạn Lư Tấn
Hồng, cựu thẩm phán Quân Pháp, bút hiệu Vĩnh
Như và Nguyễn Viết Hồng.
-
Sau đó là bạn Nguyễn Anh Tuấn, bút
hiệu Thường Nhược Thủy.
Cả
hai bạn là đồng tác giả của nhiều cuốn
sách gíá trị chuyên nghiên cứu về “tinh hoa tư
tưởng Việt” “Đạo Sống Việt” và
nhất là về văn chương b́nh dân (ca dao tục
ngữ) và về văn hóa cổ truyền của dân
tộc.
Nhờ
đọc các sách của các bạn đó, nên tôi đă có
được một số kiến thức cần
thiết về văn hóa cổ truyền của dân
tộc, và từ đó nảy sinh ḷng yêu mến con
người và tâm hồn thuần túy Việt
Sau
đây là bức thư gửi hai người bạn tôi :
Hai bạn Lư Tấn Hồng và Nguyễn
Anh Tuấn thân mến,
Như các bạn đă biết, tôi sinh ra và
lớn lên trong môi trường đậm đặc
của Công Giáo LaMă, vốn mang nặng tính chất du
mục
Tôi ví cái văn minh Tây phương (trong
đó có đạo Công giáo) cũng như món “french fries” hay
“smashed potato”, bề ngoài trông có vẻ “văn minh” nhưng
không thích hợp với tôi bằng ”củ khoai nướng
lùi tro”. Đối với tôi,
củ khoai nướng mộc mạc đơn sơ
nhưng bên trong củ khoai là tất cả vị ngon nguyên
chất ngọt ngào và mùi thơm của nó đượm
cả t́nh người.
Tôi yêu văn hóa dân tộc cũng như yêu
củ khoai mà mẹ tôi nướng vùi tro thảy cho tôi
ăn hồi c̣n nhỏ. Tôi bỏ văn hóa ngoại lai
để trở về với văn hóa dân tộc đâu
có phải là bất hiếu với cha mẹ ông bà đâu.
Tôi không chấp nhận tôn giáo không có nghĩa là tôi trở
thành kẻ vô thần và vô đạo đức. Tôi chỉ
từ bỏ cái quan niệm sai lầm về Chúa (hay
Thượng Đế), chứ tôi không chống lại các
đấng thiêng liêng. Tôi từ bỏ tôn giáo v́ tôn giáo không
cần thiết cho con người, chứ không phải v́
tôi muốn sống buông thả, vô đạo đức.
Đó là nội dung tư tưởng tôi
muốn diễn đạt trong bài viết này với
ước mong được các bạn giúp thêm ư kiến.
Thân ái,
Chấn
Chúng ta
đang sống trong thời đại của những
cơ hội và những thách thức không thể tiên đoán. Nền khoa học
xuất phát từ văn minh Tây phương không ngừng
mở rộng những chân
trời kiến thức khiến con người có thể
sáng tạo nên những kỳ quan kỹ thuật không kém ǵ
những phép lạ của Thượng đế. Con
người đă thành công sáng tạo ra những con cừu
hay những con chuột giống hệt như nhau từ
những tế bào sinh vật. Con người cũng đă thành công trong
việc làm những cơn mưa nhân tạo, hoặc trong
việc nghiên cứu các “genes” để tạo ra những
giống lúa, rau, quả theo ư muốn. Các nhà hóa học
đang t́m cách phục chế các loại rác do loài
người phế thải mỗi ngày để giảm
bớt tối đa sự phung phí nguyên liệu. Giới y
khoa đă thành công chế tạo vài loại thuốc
chủng ngừa bằng DNA để giúp con người
chỉ cần chủng ngừa một lần cũng
đủ tránh được một vài thứ bệnh nào
đó trong cả cuộc đời.
Thế
giới khoa học Tây phương vẫn liên tục
đóng góp mỗi ngày vào kho dự trữ kiến thức
của nhân loại. Chỉ trong phạm vi Anh ngữ không
thôi, người ta tính ra có tới 7000 tài liệu
được viết ra mỗi ngày về các đề
tài khoa học. Không một ai có đủ thỉ giờ và
sức lực để đọc, chứ không nói tới
chuyện có hiểu hay không.
Chúng ta
tự hào đang được sống trong thời
đại Tin Học (Information Age) nhưng thực sự
ra chúng ta đang bị tràn ngập bởi những dữ
kiện (data) mà phần lớn đă làm cho chúng ta điên
đầu lo lắng và căng thẳng thần kinh.
Mọi người Tây phương hầu như đang
được sống trong cuộc sống vật
chất đầy đủ nhất từ xưa
đến nay, nhưng con số những người bị
căng thẳng tinh thần, thậm chí là mắc bệnh
tâm thần lại có phần gia tăng hơn trước.
Rơ ràng cuộc sống vật chất sung măn không phải là
điều kiện cần và đủ cho một cuộc
sống hạnh phúc của con người.
Nói như vậy không phải chúng ta có ư làm
giảm giá trị của khoa học trong nền văn minh
Tây phương. Trái lại, chúng ta đánh giá cao những
thành tựu của nền khoa học đó và nhân loại
phải biết ơn những nhà khoa học Tây
phương đă góp công vĩ đại nâng cao mức
sống và tầm hiểu biết của toàn thể loài
người chúng ta về mọi lănh vực. Vấn đề cốt lơi là
chúng ta không thể quên cái trọng tâm của thế
giới này là chính CON NGƯỜI. Chúng ta không
thể sống hạnh phúc với thân xác và với thế
giới giầu có về vật chất mà không cần
một cái ǵ khác, nhất là không cần để ư tới
ai. Để có được một cuộc sống có ư
nghĩa và hạnh phúc trọn vẹn th́ ngoài cuộc
sống vật chất đầy đủ ra chúng ta cần có một tâm
hồn ổn định hài ḥa với t́nh thương bao
la ràn trải tới mọi đồng loại.
Phải
chăng lịch sử loài người đă có hoặc
sẽ có một “thời đại hoàng kim”, trong đó
tập thể con người được sống trong ḥa b́nh và yêu thương nhau
? Nói một cách khác, muốn
sống có hạnh phúc, chúng ta cần có trước hết
là “t́nh người”.
Phải chăng đó là tuyệt đỉnh của văn
minh nhân loại ? Phải chăng ngọn đuốc
của sự hiểu biết về cái “cùng kỳ lư”
đă không được truyền tay từ đời
xưa đến đời nay một cách liên tục và nó đă bị thất lạc
trong một chặng nào đó trong chiều dài của
những thiên-niên-kỷ ?
Nêu lên những câu hỏi này là
chúng ta đang rất quan tâm đến những giá trị
tinh thần đă bị thất lạc. Có thể những giá trị tinh thần
qúi báu đó đă không được các sử gia, các nhà
khoa học và các chính trị gia Tây phương để ư
tới. Chúng ta có thể qủa quyết một
điều là nền văn minh của nhân loại đă
không bùng nổ đột biến như hiện
tượng “Big Bang”. Nền văn minh đó đă h́nh thành
bằng những bước đi ḍ dẫm chậm
chạp trên đường tiến hóa dài tới cả
triệu năm. Khoa học khảo cổ đă đạt
những thành tựu lớn lao trong việc khám phá quá
khứ của nền văn minh nhân loại, nhưng ánh
sáng của ngành khoa học này mới chỉ soi rọi
tới cái giới hạn của nó là thời kỳ
đồ đá (Stone Age) tức khoảng thời gian
từ 25000 đến 4000 năm trước công nguyên (TCN).
Người Tây phương đă t́m ra những cái nôi
của nền văn minh như Summer,
Người
Tây phương cũng không tránh khỏi những nhận
định chủ quan trong sự đánh giá những
nền văn minh đó. Từ khi Napoléon kéo quân đến
chiếm Ai Cập vào đầu thế kỷ 18, ông ta
đă ngỡ ngàng đứng ngắm nh́n những kim
tự tháp. Tiếp theo đó là những khám phá thành công
của ngành khảo cổ tại vùng Cận Đông
với các di vật đă hùng hồn nói lên cái quá khứ
đầy huy hoàng tráng lệ của Babylon và đất
thánh Jerusalem.
Thế
giới phương Tây dường như có ấn
tượng cho rằng vùng Cận Đông là cái nôi duy
nhất của văn minh nhân loại. Những phát minh
đầu tiên là những phát minh chưa từng có bao
giờ trước đó (The firsts of first time ever)
đều được gán cho là của giống dân
Sumerians, những người đầu tiên định
cư tại
Ngày nay,
người ta đă nhận thấy những nhận
định trên đây là thiên lệch và chủ quan quá
đáng. Bởi lẽ nhiều nền văn minh cổ khác
đă được khám phá tại Trung Quốc, Ấn
Độ và
Sự thật là thế giới
cổ đă xuất hiện
nhiều nền văn minh độc lập tại nhiều vùng khác nhau, trong
số đó tại sao lại không thể có một nền
văn minh thuần túy Việt
V́
một lư do nào đó chưa rơ, tất cả các nền
văn minh cổ đều đă tàn lụi, nhưng
điều may mắn là các nền văn minh ấy
đều để lại những dấu vết trong
kho tàng kinh nghiệm của loài người. Không có một
nền văn minh nào là kẻ sống sót duy nhất trên hành
tinh này !
Trong tác
phẩm “Truy T́m Cái Nôi của nền Văn Minh” (In Search of
the Craddle of Civilization) của ba tác giả George Feverstein,
Subhash Kak và Davis Frawley – Quest Book 1995, nhiều nhà khoa học
thuộc ngành khảo cổ đă đưa ra một
nhận định mới cho rằng ngoài Babylon ra c̣n có
nhiều cái nôi văn minh khác đă phát sinh một cách riêng
biệt tại nhiều vùng khác nhau trong thế giới
cổ. Điều nhận xét đặc biệt
của họ là những cái
nôi của văn minh nhân loại đều nằm trong cái
ṿng đai chạy quanh trái đất song song với
đường xích đạo. Hầu
hết đều ở gần Hạ Chí Tuyến (Tropic of
Cancer) song song và nằm về hướng Bắc của
đường Xích Đạo. Ṿng đai này chạy qua
Ai Cập,
Để
góp phần vào việc khôi phục và phát huy nền văn
hóa Việt
“Khôn
chẳng qua lẽ, khỏe chẳng qua lời”
“Rằng
trong lẽ phải có người có ta”
Biết
ta có cái hay của ta, người có cái hay của
người. Điều quan trọng là biết học
hỏi cái hay của người để bổ túc cho cái
thiếu xót của ta và biết dùng cái Đức của ta
để cảm hóa cái xấu, cái dở của
người.
“Có
đi có lại mới toại ḷng nhau”
Nhưng
cuối cùng, tổ tiên chúng ta không tranh thắng với ai
bằng cái lư, v́ thắng bằng cái lư không thôi sẽ làm cho
kẻ thua mất mặt và làm mất đi cái t́nh cảm
thương yêu lẫn nhau. Tổ tiên chúng ta rất đau
xót nếu có ai làm mất đi cái t́nh cảm đó.
“Một
bồ cái lư không bằng một tí cái t́nh”
Chúng
ta không kỳ vọng quá cao vào riêng cái kho tàng văn hóa
của dân tộc để cho rằng sự hiểu
biết khôn ngoan của tổ tiên đủ để
giải quyết mọi vấn đề của cuộc
sống hôm nay. Thật sự chúng ta cần phải học
hỏi Tây phương rất nhiều về phương
pháp tổ chức, óc phân tích khoa học, tinh thần
trọng sự chính xác và nhất là ư chí phấn đấu
liên tục trong học hỏi, t́m hiểu và phát minh
để không ngừng tiến bộ mọi mặt.
Tuy
nhiên, chúng ta phải nh́n nhận rằng cái kho tàng hiểu
biết khôn ngoan của tổ tiên chúng ta đă
được chắt lọc qua biết bao gian lao thử
thách trong cuộc sống của toàn dân, nó là sợi chỉ
xuyên suốt của bản sắc dân tộc qua nhiều
ngàn năm lịch sử dấu tranh để đất
nước ta c̣n tồn tại đến ngày hôm nay.
Hiển
nhiên là cái kho tàng hiểu biết khôn ngoan của tổ tiên,
tức là cái gốc của nền văn minh Việt
Dưới
ánh sáng của văn hóa dân tộc, chúng ta hăy b́nh tâm đánh
giá lại mọi chủ
nghĩa và mọi tôn giáo mà
chúng ta đang theo :
Mọi tôn giáo hay mọi chủ nghĩa
chỉ có thể là chính đáng nếu nó thực sự
phục vụ con người.
Bất
cứ một thứ chủ nghĩa nào, dù nhân danh quốc
gia hay xă hội, mà chà đạp hủy hoại con
người đều là những tà thuyết đáng lên
án. Mọi thứ tôn giáo dù nhân danh Thượng đế
hay hứa hẹn một thiên đàng vĩnh cửu
nhưng đă ngăn cách con người với nhau và
hủy diệt lẫn nhau v́ những tranh chấp thế
tục thấp hèn th́ đó không phải là những tôn giáo
“thật”. Những tôn giáo đó thực chất chỉ là
buôn thần bán thánh của những người khoác áo
thầy tu để lừa bịp con người và đi
ngược lại ư Thượng đế.
Phật
đă dạy mọi chúng sinh đều có Phật tính.
Như vậy Phật đă có sẵn ở trong ḷng mỗi
người. Muốn t́m Phật th́ cứ việc t́m Ngài
ở trong ḷng ḿnh, không cần phải tới chùa - Phật
tại tâm chứ không tại chùa. Hăy tin vào chính ḿnh và
nhớ lời ông cha ta dạy rằng: bộ áo khó làm nên
thầy tu. Tổ tiên chúng ta dạy chúng ta cái tinh thần
đề cao cảnh giác “miệng tụng Nam Mô, bụng
bồ dao găm”
Chúa
Jesus c̣n dạy kỹ hơn: “Kẻ giàu vào nước
thiêng đàng c̣n khó hơn con lạc đà chui qua lỗ kim”.
Ai cũng biết giáo hội
Rơ ràng
một điều là Phật
cũng như Chúa đều dạy mọi người hăy
quay về với chính nội tâm của ḿnh. Nội tâm
của mổi người mới là Chùa thật và
đền thờ thật. Mọi thứ nhà thờ,
thánh thất hay chùa chiền miếu mạo ta thấy bên
ngoài đều là đồ giả. Đó chính là những
trung tâm dẫn dắt con người xa rời các lời
dạy chân chính của Phật và Chúa. Mái chùa hay mái nhà thờ càng rộng lớn bao nhiêu càng
che khuất ánh sáng mặt trời chân lư bấy nhiêu.
Bức tường của nhà thờ hay chùa do người
ta xây dựng càng cao bao nhiêu th́ càng ngăn cách con
người với nhau bấy nhiêu. Các tu sĩ giảng
giải dông dài chính là những người đầu tiên
phản bội lại các giáo chủ của ḿnh, trước
khi phản bội đồng đạo nhẹ dạ
của họ.
Trước
khi các đạo du nhập vào đất nước ta,
tổ tiên chúng ta đă sống hàng ngàn năm b́nh yên,
hạnh phúc mà không cần tới một đạo nào
cả. Tổ tiên chúng ta đă nhận thức rằng: chúng ta đă có sẵn một
đạo cao hơn tất cả các tôn giáo, đó là “Đạo Làm Người”.
Tổ
tiên chúng ta là con Hồng cháu Lạc, chứ không phải là
con cháu của Adong-Evà, nên không hề mắc cái “tội
tổ tông”. Do đó chúng ta chẳng cần một thứ chúa Cứu Thế
nào cứu chuộc. Vào năm 40 sau Công-nguyên, hai Bà Trưng
Trắc và Trưng Nhị đă cứu nước ta thoát
ách đô hộ ngoại bang và dành lại độc
lập cho tổ quốc. Hai Bà, sấp sỉ bằng
tuổi Jesus, và hai Bà Trưng
đă thực sự là Chúa Cứu Thế của dân tộc
ta. Jesus lúc đó c̣n bận giảng đạo ở
Một người đă không
thể cứu nổi chính ḿnh th́ làm sao có khả năng làm
Chúa Cứu Thế cả thế gian, trong đó có cả những người
chủ mưu giết ḿnh ? Học giả Do Thái Leonard Yassen
đă viết rất chí lư trong tác phẩm “The Jesus Connection
to Triumph over Anti-Semistism” (Crossroad 1995) : “Jesus không hề
biết ǵ về Ki Tô Giáo (Christianity), cũng không chết
với danh nghĩa là người dă sáng lập ra đạo
này, mà chết v́ danh nghĩa một công dân Do Thái”. Ông
gọi Ki Tô Giáo là một cái boomerang
vĩ đại do đế quốc La Mă tạo ra
để khiến cho nó quay lại tiêu diệt tổ
quốc của công dân Jesus. Do Thái quả là một một
dân tộc được chọn (a chosen people), nhưng
người chọn không phải là Thiên Chúa mà là đế
quốc La Mă. và họ đă chọn dân tộc Do Thái
với mục tiêu rơ rệt là để tiêu diệt dân
tộc này.
Kẻ
viết bài này đă viết trong tinh thần thanh thản,
không một chút ác cảm riêng tư nào đối với
Công Giáo, v́ đạo này là đạo của tổ tiên, gia
tộc nội ngoại từ thế kỷ 16. Mọi
người thân thiết của đời tôi, tất
cả đều là những tín đồ Công Giáo nhiệt
thành đến độ sẵn sàng “tử v́ đạo” bất cứ lúc nào. Tôi đă
sinh ra và lớn lên trong môi trường đậm
đặc ấy của Công Giáo miền quê Nam-Định.
Nhưng cũng tại nơi miền quê đó, cái bản
sắc đặc biệt của dân tộc tính Việt Nam
vẫn không phai nḥa trong đáy sâu cùng tận linh hồn
của những người nông dân chất phác hiền ḥa.
Cái ánh sáng của văn hóa dân tộc c̣n sót lại nơi tôi
đă cởi trói cho tôi và giải thoát tôi khỏi “cái tṛng
Công Giáo” (The Catholic Loop – theo cách nói của bà Joanne H. Meehl, tác
giả cuốn Người Công Giáo Tỉnh Ngộ - The
Recovering Catholic – Prometheus Books, NY 1995).
Đă
sống nhiều năm ở hải ngoại, tôi đă
ăn nhiều “french fries, baked potatos, smashed potatos”, nhưng
tôi vẫn nhớ như in cái hương vị ngọt
ngào độc đáo của củ khoai mẹ tôi lùi trong
bếp tro rơm rạ. Đă hơn nửa thế kỷ
qua rồi mà sao cái hương vị ngọt ngào ấy vẫn như c̣n tồn
đọng trong đáy sâu tâm hồn tôi. Đặc tính
văn hóa dân tộc Việt
Cái
hương vị ngọt lịm nóng hổi của củ
khoai nướng thô sơ mộc mạc cũng như ḷng
thương con chân thật của bà mẹ quê đă
thấm sâu vào từng giọt máu, từng đốt
xương và từng hơi thở của linh hồn. Tôi
vẫn ghi ḷng tạc dạ những lời mẹ dặn:
“Con hăy sống theo lời Chúa. Thánh Kinh là kho tàng của
sự khôn ngoan để cho con học hỏi suốt
đời”. Quả thật, chúng ta có thể học
hỏi được nhiều điều khôn ngoan tốt
lành nơi Thánh Kinh, nhưng không phải mọi điều
trong đó đều khôn ngoan và tốt lành cả. Trong Thánh Kinh Cựu Ước
cũng như Tân Ước không thiếu ǵ những
điều nhảm nhí, ác độc và vô luân. Vấn
đề quan trọng là khi đọc Thánh Kinh, cũng
như khi đọc mọi cuốn sách khác, ta cần
phải biết phân biệt đâu là điều đúng,
đâu là điều sai. Thánh Kinh chẳng phải là
cuốn sách thiêng liêng ghi chép những lời của Chúa, v́
Chúa là đấng thiêng liêng chẳng nói bao giờ. Tất
cả chỉ là những lời của người phàm
tục được gán cho Chúa qua cái mà người Công
giáo thường gọi là sự “mặc khải”. Cả ba tôn giáo độc
thần (Do Thái, Ki Tô, Hồi) đều vin vào sự
mặc khải này để buộc tín đồ phải
tin Thánh Kinh của ḿnh là chân lư tuyệt đối. Đó là
nguyên nhân chính yếu dẫn đến thái độ
tự tôn mù quáng và độc quyền chân lư. Cả ba
tôn giáo thờ cùng một ông chúa đều muốn dành
độc quyền chân lư, nên đă gây thánh chiến với
nhau tạo nên cảnh núi xương sông máu trong hơn
chục thế kỷ qua. Họ đă biến Thánh Kinh
của T́nh Yêu (Gospel of Love) thành Thánh Kinh của ḷng hận
thù (Gospel of Hatred). Vậy Thánh
Kinh đă rơ ràng không phải là lời của Chúa.
Qủy sứ cũng có thể viện dẫn Thánh Kinh
để giải thích cho những việc làm ác độc
của chúng. Thánh Kinh chỉ là tấm màn che mỹ miều
để những phần tử lợi dụng tôn giáo núp
đằng sau tha hồ tác yêu tác quái mà vẫn
được các nạn nhân của họ kính trọng
như thường!
Mỗi
khi suy nghĩ về đạo Công giáo là đạo lâu
đời của ông bà tổ tiên, tôi thường áy náy
trong ḷng và tự hỏi ḿnh liệu có phạm tội bất hiếu hay không. Trong
những hoàn cảnh ấy tôi thường nghĩ
đến mẹ tôi và tâm sự với người trong
tư tưởng :
Mẹ ơi !
Con cám ơn mẹ đă cho con một trí óc để
suy xét, một trái tim để yêu thương và một lương tâm để
đón nhận những lời nói chân thật. Con không tin
những lời người ta nói trong sách, dù đó là sách Kinh
Thánh, nhưng chỉ tin vào những lời nói của
lương tâm trong tâm hồn chân thật của con mà thôi.
Con kính trọng mẹ là một người
phụ nữ Công giáo chân thật, hết ḷng mến Chúa,
yêu người. Đồng thời mẹ cũng là
một người nông dân Việt Nam chân thật, v́ mẹ
đă sống thật với ḷng ḿnh, vốn rất
đơn sơ, mộc mạc, hiền ḥa. Mẹ không
ưa lư luận cao xa, mà chỉ biết yêu thương vô
điều kiện. Mẹ đă t́m thấy thiên đàng
của Chúa trong tâm hồn b́nh an của mẹ ngay lúc c̣n
sống trên cơi đời này. Mỗi lần giỗ mẹ,
con không cầu xin Chúa cho mẹ được rỗi linh
hồn, v́ mẹ đă rỗi linh hồn từ khi c̣n
sống. Con không theo một tôn giáo nào, nhưng con tôn kính con
người thật của Jesus, cũng như tôn kính con
người thật của Thích Ca Mâu Ni. Con tôn kính các Ngài,
nhưng chẳng bao giờ muốn ḿnh trở thành công dân
Do Thái hay Ấn Độ, và càng không muốn trở thành
công dân của
Cả Chúa trong nhà thờ lẫn Phật trên
chùa đều là những h́nh tượng do người ta
dựng lên. Chẳng có Chúa, Phật nào thưong con thật
t́nh bằng mẹ thương con.
Dù cho thời gian phôi pha và dù sống ở
bất cứ nơi nào trên thế giới, hương
vị của những củ khoai nướng lùi bếp
tro vẫn cứ măi vấn vương trong ḷng con, v́ đó
chính là biều hiệu t́nh yêu thương bất diệt
của mẹ trong linh hồn con.
Mẹ ơi, linh hồn Việt