CÁC ĐẠO THỜ THIÊN CHÚA LÀ NHỮNG BIẾN DẠNG CỦA ĐẠO THỜ B̉.

 

  Từ ngàn xưa, con người đă được định nghĩa là con vật có tính thần linh (spiritual animals) nên con người luôn có khuynh hướng t́m về các thần linh thiêng liêng cao hơn ḿnh để tôn thờ hoặc để xin phù hộ ban ơn cứu giúp.  Các nhà nghiên cứu nhân chủng học và khảo cổ học đều xác nhận rằng:  Khi con người bắt đầu đạt tới tŕnh độ hiểu biết cũng là lúc bắt đầu có tôn giáo (Homo sapiens - Homo Religious). Nói cách khác, khi con người bắt đầu nhận ra ḿnh là NGƯỜI khác với những loài vật là lúc con người bắt đầu thờ thần linh.  V́ thế tôn giáo xuất hiện cùng lúc với các tác phẩm mang tính chất nghệ thuật (works of art).  Qua các tác phẩm nghệ thuật đó, con người biểu lộ sự ngưỡng mộ của ḿnh trước những bí mật kỳ diệu của thiên nhiên và bày tỏ niềm tin vào một sức mạnh vô h́nh vượt trên con người.  Con người luôn luôn cố gắng t́m cho ra cái ư nghĩa đích thực của cuộc sống trên trái đất.  Con người không hài ḷng với cuộc đời ngắn ngủi thực tại và muốn cuộc sống phải được kéo dài đến vô tận sau cái chết và dưới một h́nh thức khác.

Thực sự, tôn giáo là một phản ứng tâm lư tự nhiên của con người trước thiên nhiên kỳ bí.  Tuy nhiên, cũng như mọi hoạt động khác của con người, tôn giáo đă bị lạm dụng (abused) và gây ra không biết bao nhiêu tai họa cho con người.

 Tôn giáo nào cũng tự coi ḿnh như một chiếc thuyền để chở con người đến bến bờ hạnh phúc.  Khổ nỗi, tôn giáo nào cũng coi cái thuyền của ḿnh là duy nhất tốt và duy nhất đi đúng hướng.  Tín đồ phần đông đều mù quáng, chỉ biết gục đầu xuống tôn thờ chính cái thuyền của ḿnh mà quên mất bến bờ hạnh phúc chung của nhân loại.  Những người lái thuyền, được mệnh danh là các vị lănh đạo tinh thần, bận tâm đánh ch́m các thuyền khác để củng cố địa vị độc tôn của tôn giáo ḿnh.  Do đó chiến tranh tôn giáo đă xảy ra liên miên trong lịch sử và đến nay nó vẫn c̣n tiếp diễn dưới cả hai dạng nóng và lạnh trên khắp các lục địa.

Nhiều người nhận thấy tôn giáo là mối nguy hiểm cho ḥa b́nh thế giới nên họ muốn xóa bỏ mọi tôn giáo.  Bắt đầu từ cuối thế kỷ 16 tại Âu Châu, phong trào Soi Sáng (Enlightenment) ra đời và dần dần phát triển thành Phong Trào Bài Trừ Tôn Giáo (Secularism) nhằm thiết lập một Chủ Nghĩa Nhân Đạo Tự Do (Liberal Humanism).

Lư tưởng giải thoát con người khỏi mối hiểm nguy do các tôn giáo gây ra đă được thể hiện rơ ràng nhất trong Tu Chính Án 14 của Hiến Pháp Hoa Kỳ. Trong sách "American Government, Political and Political Culture" của ba tác giả Lyons, Scheb và Richarson (West Publishing Co. 1995) trang 110 viết như sau : "Tu Chính Án Thứ Nhất đ̣i hỏi thiết lập một bức tường ngăn cách giữa giáo hội và quốc gia. Và mặc dầu điều khoản thiết lập đó của Tu Chính Án chỉ được áp dụng cho Quốc Hội, nhưng Tối Cao Pháp Viện đă qui định rằng nguyên tắc tách rời Giáo hội ra khỏi Quốc gia phải được áp dụng đồng đều cho Liên bang cũng như mọi chính quyền địa phương theo Tu Chính Án 14 của Hiến Pháp, theo dó, chính sách của chính quyền phải theo đuổi mục tiêu có tính thế tục hoặc vô tôn giáo". (The First  Amendment requires a wall of separation between church and state. And, although the First Amendment 's Establishment Clause applies only to Congress, the Supreme Court has held that the principle of separation  of church and state applies equally to state and local governments under the Fourteenth Amendment : a government policy must have a secular or nonreligious purpose ) 

Chủ nghĩa Thế Tục Hóa Xă Hội (Secularism) là một quan niệm mới về tôn giáo : Việc chính đáng của con người là lo phục vụ lợi ích của con người chứ không thể bắt con người phải hy sinh để phục vụ thần linh. Con người là chính yếu trên thế gian này chứ không phải là một vị thần nào cả. Con người được sinh ra trên thế gian không phải chỉ để lo có một việc duy nhất là phải "thờ phượng kính mến Đức Chúa Trời trên hết mọi sự" để rồi quên khuấy mọi người ở quanh ḿnh. Điều chúng ta cần phải quan tâm hiện nay là cái chết của nhân loại chứ không phải là cái chết của Thượng Đế. 

Chủ Nghĩa Nhân Đạo Tự Do là một tôn giáo không cần Thiên Chúa (a religion without God)*.  Nói "không cần Thiên Chúa" không có nghĩa là không cần tôn giáo v́ không phải tôn giáo nào cũng là hữu thần (theist) mà cũng có tôn giáo vô thần (atheist) như đạo Phật chẳng hạn.*

Thực tế mà nói, Thiên Chúa chẳng qua chỉ là sự kéo dài những nhu cầu và ước vọng của con người (a projection of human needs and desires).  Thiên Chúa chỉ là tấm gương phản chiếu những mối lo sợ và những nỗi khao khát của xă hội cơn người trong mỗi giai đoạn phát triển của nó.  Thiên Chúa của Thánh Kinh (God of the Bible) hoàn toàn là một sản phẩm tưởng tượng của con người nhưng lại là một thực tế hắc ám nhất trong đời sống nhân loại suốt trên 4.000 năm qua!

Trong tác phẩm A HISTORY OF GOD (460 trang, the New York Times Best-seller.  Ballantine Books xuất bản 1993), tác giả là nữ tiến sĩ Karen Amstrong, nguyên nữ tu Công Giáo và nguyên giáo sư Đại Học Leo Baeck Anh Quốc, đă viết rất chí lư như sau:

"Cuốn sách này không phải là cuốn sử về Thiên Chúa thật v́ Thiên Chúa thật là điều không ai có thể tả hoặc nói lên được (ineffable), ngài vượt ra ngoài thời gian và mọi sự đổi thay, nhưng đây là cuốn sử đề cập đến những nhận định về Thiên Chúa của những người đàn ông và đàn bà từ thời Abraham cho tới nay".  (This book will not be a history of the ineffable reality of God itself, which is beyond time and change, but a history of the way men and women have perceived Him from Abraham to the present day. The human idea of God has a history, page XX). Ư tưởng của con người về Thiên Chúa có lịch sử của nó. Vậy, nói đến lịch sử Thiên Chúa là nói đến lịch sử các quan niệm của con người về Thiên Chúa.  Nói cách khác, lịch sử Thiên Chúa là lịch sử h́nh thành các tôn giáo thờ một vị Thiên Chúa Duy Nhất (The One-God Religions) c̣n được gọi là Thiên Chúa Giáo hoặc Độc Thần Giáo (Monotheism, Monotheist religions).

 Đối với người Việt Nam chúng ta, vấn đề danh từ đă làm cho hầu hết chúng ta có những ngộ nhận về  Thiên Chúa Giáo.  Danh từ Christianity thường được dịch là Thiên Chúa Giáo thật sự không được chính xác.  Christianity là Kitô Giáo v́ nguyên ngữ của nó là Christ (Chúa Kitô).  Christians nên được dịch là người theo đạo Kitô, hoặc Kitô hữu, hoặc tín đồ Ki Tô Giáo, bao gồm tất cả những người tin thờ Jesus là Chúa Cứu Thế (Christ).

 Không riêng ǵ những người Công Giáo tôn thờ và tin rằng MR.JESUS là Đấng Cứu Thế (Chúa Kitô) mà những tín đồ Chính Thống Giáo ở Nga, Hy Lạp, Đông Âu, Anh Giáo ở Anh, Úc, Tân Tây Lan và hàng trăm giáo phái Tin Lành, Cơ Đốc Phục Lâm, Báp Tít, Mormon, Methodists.... ở Hoa Kỳ và nhiều nước khác cũng đều tin như vậy cả. Đó là niềm tin Ki Tô. Ai có niềm tin Ki th́ người đó là Christian. Tuy có cùng một niềm tin Ki nhưng những người anh em Ki Tô thường xuyên có thánh chiến với nhau và giết nhau như ngóe. Nếu không có niềm tin Ki Tô quái đản đó th́ người ta sẽ không c̣n lư do để chém giết nhau nữa !

Tất cả các tôn giáo thờ Jesus và tin Ngài là Đấng Kitô, Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người chuộc tội cứu thế, đều được gọi chung là Ki -  Giáo. Công Giáo chỉ là một ngành chính trong hệ thống các đạo Ki Tô (Roman Catholic is the main line of Christianity) và toàn bộ các đạo Ki Tô cũng chỉ là một hệ phái trong hệ thống Độc Thần Giáo gồm có cái gốc của hệ thống này là Do Thái Giáo.  Sau hết, cả hai tôn giáo Độc Thần là Do Thái Giáo và Ki Giáo đă phát sinh một hệ phái thứ ba là Hồi Giáo vào giữa thế kỷ 7. Người Việt Nam chúng ta thường lầm lẫn gọi Công Giáo La Mă là Thiên Chúa Giáo hoặc Đạo Thiên Chúa (Montheism) . Thực sự, Thiên Chúa Giáo bao gồm rất nhiều tôn giáo bao gồm tất cả các đạo thờ Thiên Chúa của Thánh Kinh Cựu Ước Do Thái (God of the Bible) cùng những tín điều căn bản về thiên đàng, địa ngục, tổ tông loài người là A-Dong E-Và, thiên thần truyền tin Gabriel và nhất là đều nhận Abraham làm tổ phụ của tôn giáo ḿnh. Đó là các đạo Do Thái, Ki Tô và đạo Hồi. 

 Jesus là một nhân vật có thật, được phỏng định sinh khoảng năm từ 6 đến 4 trước Công Nguyên.   Kitô là một nhân vật thần thoại của Do thái, bắt nguồn sâu xa từ huyền thoại Babylon đă có từ nhiều ngàn năm trước khi Do Thái lập quốc. Tiếng Việt KI-TÔ được phiên âm từ tiếng Tây Ban Nha "Cristo" do các giáo sĩ  Tây Ban Nha đến giảng đạo ở nước ta lần đầu vào tiền bán thế kỷ 16.  Trong những thế kỷ trước, người Công Giáo Việt Nam phiên âm danh từ CRISTO thành "Chúa Ki-Ri-Xi-Tô".      Trước 1954, các bài kinh giáo dân Việt Nam thường đọc có những câu như:  "Chúa Ki-Ri-Xi-Tô thương xót chúng tôi, Chúa Ki-Ri-Xi-Tô nhậm lời chúng tôi". Sau 1954 danh từ Ki-Ri-Xi-Tô đă được rút gọn lại là Kitô.  Các kinh sách Công Giáo hiện nay đều viết "Chúa Giê Su Ki tô".  Vậy thiết nghĩ chúng ta không nên dịch chữ Christianity là Thiên Chúa Giáo mà nên dịch là Kitô Giáo cho sát nghĩa.  Kitô là một ư niệm đặc biệt của người Do Thái đă có từ nhiều thế kỷ trước khi Chúa Jesus ra đời.  Nguyên gốc tiếng Do Thái là Messiah, có nghĩa là một vị cứu tinh của dân tộc Do Thái.  Vị đó thuộc ḍng dơi vua David, sẽ sinh ra và cứu dân tộc Do Thái thoát ách nô lệ ngoại bang, cuối cùng sẽ đưa dân tộc Do Thái lên một địa vị cao hơn các dân tộc khác.  Lúc đầu, tiếng Messiah chỉ có nghĩa là một minh quân David mới của Do Thái (a new King David) hoặc là một Đấng Cứu Chúa của dân tộc đă được Chúa chọn (the Savior of the chosen people).  Nhưng với sự phát triển của giáo lư đạo Kitô, chữ Messiah đă bị biến nghĩa thành  Chúa Cứu Thế chuộc tội nhân loại (The Redeemer of mankind).Trong thế kỷ thứ tư và thứ ba trước Công Nguyên, Do Thái bị Hy Lạp cai trị.  Những người giàu và giới quyền thế Do Thái hầu hết đều rất thông thạo tiếng Hy Lạp.  Do đó, các cuốn kinh thánh của đạo Do Thái đă được dịch sang tiếng Hy Lạp từ vài trăm năm trước Công Nguyên.

Chữ Messiah của Do Thái đă được người Hy lạp dịch ra là Christos. Tiếng Anh và tiếng Pháp sau này phiên âm thành Christ.  Tiếng La Tinh là Christus.  Tiếng Tây Ban Nha là Cristo.  Công Giáo Việt Nam chịu ảnh hưởng của các cố đạo Tây Ban Nha nên đă phiên âm tên của Chúa và các thánh từ tiếng Tây Ban Nha.  Thí dụ:

 

 Anh       Pháp  La Tinh          TB Nha          V N

Christ

Mary

Peter

Paul

Francis          Christ

Marie

Pierre

Paul Francis            Christus

Maria

Petrus

Paulus Francis        Cristo        =

Maria        =

Pedro        =

Pabblo      =    Francisco  =           Kitô

Maria

Phê rô

Phao lô Phanxicô

     

Chúa Jesus là một người thật, c̣n Chúa Kitô là một nhân vật huyền thoại được tạo thành do sự mong ước của dân tộc Do Thái.  Đặc tính của Chúa Kitô là giải thoát mọi người bị áp bức (to let the oppressed go free) theo định nghĩa của tiên tri Isaiah, thế kỷ 8 trước Công Nguyên.  Người Do Thái không công nhận Jesus là Kitô v́ Jesus đă không làm nỗi cái công việc giải cứu những người bị áp bức. Tới nay, người Do Thái vẫn tin rằng Chúa Cứu Thế Kitô chưa ra đời.  Họ chỉ tôn thờ Thiên Chúa mà họ gọi là Jehovah, xưa kia tổ tiên của họ gọi là Elohim.  Đối với những người theo đạo Kitô th́ Jehorah là Đức Chúa Cha, Jesus là Đức Chúa Con và ngôi thứ ba của Thiên Chúa là Đức Chúa Thánh Thần. Ba Ngôi Thiên Chúa là Một Đức Chúa Trời. Đó là quan niệm của Ki Tô Giáo về Thiên Chúa (Christian God : Trinity God). 

Những người Hồi Giáo tôn thờ Thiên Chúa của đạo Do Thái, tiếng Ả Rập gọi là ALLAH (God), tức là Đức Chúa Cha của đạo Kitô.  Họ coi các vị lập các đạo này, từ Abraham đến Moses và Jesus, là các thánh tiên tri (prophets).  Đạo Do Thái và đạo Hồi quan niệm Thiên Chúa là Duy Nhất (Unity God) khác với đạo Kitô quan niệm Thiên Chúa Ba Ngôi (Trinity God).  Theo người Tây phương, bao gồm các quốc gia Âu Mỹ, Do Thái và Ả Rập, Thiên Chúa Giáo là các tôn giáo thờ MỘT THIÊN CHÚA (The One-God Religions) được mệnh danh là ĐỘC THẦN GIÁO (Monotheism).  Danh từ Monotheism xuất phát từ tiếng Hy Lạp: "Mono" là Một, "Theo" là Thiên Chúa. Theo quan điểm của người Tây Phương th́ Thiên Chúa Giáo, tức Độc Thần Giáo, gồm có 4 đạo:

 

1.         Khới đầu là đạo Do Thái Nguyên Thủy (Pre-Mosaic Judaism) là đạo thờ ḅ El.

2.         Đạo Do Thái hiện nay do Moses lập ra từ năm 1250 TCN (Mosaic Judaism) thờ Jehovah.

3.         Giữa thế kỷ 1, Đạo Kitô nguyên thủy xuất hiện và tồn tại đến đầu thế kỷ 4. Quan niệm về Thiên Chúa Ba Ngôi chưa thành h́nh. Đế quốc La Mă tiêu diệt các giáo phái Ki Tô nguyên thủy để lập ra đạo phục tùng đế quốc là Công Giáo La Mă. Quan niệm về Thiên Chúa Ba Ngôi xuất hiện trong Công đồng đầu tiên tại Nicaea năm 325 và phải đợi đến thế kỷ 5 quan niệm Thiên Chúa Ba Ngôi mới được kiện toàn bởi nhà thần học người Algeria là Augustine (396- 430).

 Danh từ Công Giáo La Mă (Roman Catholic) có nghĩa là : một giáo phái Công Giáo, trong hệ thống Ki Tô Giáo, thuộc quyền cai quản của giáo hoàng ở Vatican. Ngoài Công Giáo La Mă c̣n có nhiều giáo hội Công Giáo khác không có liên hệ ǵ với Vatican như Công Giáo Hy Lạp (Greek Catholic), Công Giáo Ai Cập và Ethiopie (Coptic), Công Giáo Nam Phi với giám mục nổi tiếng Desmond Tutu v.v... Công Giáo La Mă cũng chỉ là một ngành lớn trong hệ thống Ki tô giáo. Ngoài Công Giáo La Mă ra c̣n có nhiều tôn giáo khác cũng là Ki tô giáo như Chính Thống Giáo, Anh Giáo và hàng vài trăm giáo phái Tin Lành độc lập khác.  Các tự điển Anh Việt, Pháp Việt thường dịch Christianity (Pháp: Christianisme) là Thiên Chúa Giáo đều sai lầm v́ căn ngữ của Christianity là Christ (chúa Kitô) do đó chúng ta nên dịch Christianity là Kitô Giáo, Christian là tín đồ đạo Kitô hoặc Kitô hữu.  Kitô Giáo chỉ là một trong 3 ngành (lines) của Thiên Chúa Giáo mà thôi.  Hai ngành kia là Do Thái Giáo và Hồi Giáo.

Thiên Chúa Giáo là sản phẩm văn hóa của Tây Phương, vậy muốn hiểu đúng nghĩa tôn giáo này, chúng ta nên hiểu Thiên Chúa Giáo là Độc Thần Giáo (Monotheism) theo quan điểm của họ.  Quan điểm của Tây phương về từ ngữ HEATHEN cũng có một ư nghĩa đặc biệt.  Nếu chúng ta dịch  "heathen" là "ngoại đạo", chúng ta sẽ hiểu sai ư nghĩa đích thực của nó.  Các tự điển Webster và American Heritage đều định nghĩa từ ngữ  HEATHEN (noun) : anyone not a Jew, a Christian or Muslim. HEATHEN (adj) : pagan, irreligious, uncivilized, barbarous.

Rơ ràng từ ngữ heathen (ngoại đạo) được dùng để chỉ những người hoặc những tôn giáo nằm ngoài hệ thống Độc Thần Giáo (bao gồm đạo Do Thái, đạo Kitô và Hồi).  Đồng thời nó cũng cho ta thấy cách nh́n chủ quan rất cao ngạo của Thiên Chúa Giáo coi mọi người ngoại đạo là những kẻ ngu đốt, thiếu văn minh hoặc nói trắng ra là mọi rợ (barbarous).  Thực sự Thiên chúa Giáo chỉ là những biến thái của đạo thờ ḅ, chẳng có ǵ đáng làm cho họ hănh diện.

 

I. ĐẠO DO THÁI

 

Trên phương diện lịch sử khách quan, Thiên Chúa Giáo đă khởi nguồn từ đạo thờ ḅ El của Abraham và biến thể thành đạo Do Thái của Moses.  Đến thế kỷ thứ 2 TCN, Do thái Giáo bị phân tán thành 3 giáo phái là Pharisees, Sadducees và Essenes*. Gia đ́nh Jesus vốn theo giáo phái Pharisees là giáo phái chiếm giữ đền thờ Jerusalem nên cha mẹ Jesus thường đưa con đến đây dự lễ. Năm 30 tuổi, Jesus bỏ Pharisees theo giáo phái Essenes của John the Baptist và được John Baptist ban phép rửa tội trên sông Jordan để gia nhập giáo phái này. Từ đó, Jesus bị ảnh hưởng sâu đậm giáo lư của John nên ngày nay các học giả Tây Phương đă coi giáo phái Essenes là tiền thân của đạo Kitô. Họ gọi giáo phái Essenes là "Đạo Kitô trước Jesus" (Christianity before Jesus). Đạo Do Thái là gốc của Thiên Chúa Giáo hiện chỉ có 14 triệu tín đồ trên khắp thế giới.

 

II. ĐẠO KITÔ

 

Đạo Kitô không phải đă được sáng lập bởi Jesus, mà thực sự đă được thành lập bởi Paul (tức Phao lồ, sinh năm thứ 5 sau Công Nguyên, chết năm 67) nên các học giả Tây phương thường gọi Đạo Kitô là Thần học của Paul (The Pauline Theology).  Lúc đầu đạo này lấy danh xưng là Kitô Giáo (Christianity) v́ họ tôn Jesus lên làm Chúa Ki-tô và ghép liền hai từ này làm một thành Jesus-Christ (Giêsu Ki-Tô).  Sau gần 3 thế kỷ, mặc dầu bị các hoàng đế La Mă giết hại rất nhiều, đạo Kitô vẫn bành trướng ra khắp đế quốc La Mă và các nước Cận Đông.  Hoàng đế La Mă Constantine (285-337) nhận thấy không thể tiêu diệt đạo Kitô bằng vũ lực v́ các tín đồ đạo này rất cuồng tín.  Do đó, vào năm 313, Constantine đă quyết định bỏ lệnh cấm đạo Ki Tô. Năm 325 y triệu tập Công Đồng Nicaea để thống nhất và củng cố đạo Kitô nhằm mục đích  biến nó thành một lợi khí xâm lược thế giới.  Khẩu hiệu của y là "IN HOC SIGNO VINCES": Với dấu hiệu Thánh Giá ta sẽ chiến thắng toàn cầu!

Trong t́nh h́nh thế giới hiện nay, khối Ả Rập Hồi Giáo cuồng tín với chủ nghĩa khủng bố quốc tế đang đứng trước nguy cơ sẽ bị tiêu diệt bởi sức mạnh quân sự của Mỹ và đồng minh.  Công Giáo La Mă bề ngoài có vẽ như vẫn c̣n nguyên vẹn, thực sự đầu năo của nó là Ṭa thánh Vatican đă bị đảo chánh trong Công đồng Vatican II vào tháng 10 năm 1962. Đó là "Cuộc Cách Mạng Tháng Mười" trong nội bộ Giáo Hội Công Giáo. Phe bảo thủ của cố giáo hoàng PIO XII và Spellman đă bị lật đổ. Cho nên các sản phẩm của tên giáo hoàng bạo chúa Mafia Pio XII và Spellman là anh em Kennedy và anh em Ngô đ́nh Dịệm đều bị thủ tiêu trong tháng 11- 1963.  Giáo Hoàng Jean Paul II bề ngoài là kẻ đứng đầu Hội Thánh Công Giáo, nhưng thực sự y chỉ là một gă tài xế "lái xe theo kính chiếu hậu".

Ban tham mưu giấu mặt (faceless) điều khiển Giáo Hoàng và Giáo hội Công Giáo hiện nay là những  Christkillers chủ tâm tiêu diệt Công Giáo theo mô h́nh từ trong ra ngoài và từ đỉnh đổ xuống. Đến một thời điểm thích hợp không xa, nhóm người minh triết cứu tinh nhân loại sẽ hướng dẫn Giáo Hoàng lái chiếc xe giáo hội Công Giáo La Mă lao xuống vực thẳm tự hủy. Đó là Ngày Tận Thế của Giáo Hội Tội Ác Công Giáo La Mă. Công Giáo La Mă hiện đang nằm trên miệng hố diệt vong.

 Trong thế kỷ 21, hai tôn giáo lớn nhất của hệ thống Thiên Chúa Giáo là Công Giáo và Hồi Giáo nếu không bị tiêu diệt hoàn toàn th́ cũng sẽ không c̣n là những lực lượng có đủ khả năng khuynh đảo t́nh h́nh thế giới như trước nữa. Đó là một thực tế không thể đảo ngược. Nhân loại nhờ đó sẽ có được một cuộc sống mới thanh b́nh thịnh trị trong sự ḥa hợp hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau để cùng xây dựng và phát triển văn minh hạnh phúc cho toàn thế giới, không phân biệt màu da, giai cấp, văn hóa... Nhân loại đă đến lúc tỉnh giấc ngủ mê để dành lại vườn địa đàng của ḿnh từ tay những tên Thiên Chúa độc ác và giả tạo như  Elohim,Jehovah, Allah của cái gọi là Kinh Thánh Cựu Ước.